Friday, May 21, 2010

Chỗ mạnh, chỗ yếu trong tâm lý con người Việt Nam khi đi vào thời đại văn minh trí tuệ

GS,TS Hoàng Tụy

Cùng với thế kỷ 20 sắp đi qua, nền kinh tế vật chất, dựa chủ yếu trên cơ sở sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất, chế biến, phân phối, sử dụng sản phẩm vật chất làm nền tảng, đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, trong đó việc sản xuất, truyền tải, sử dụng tri thức chi phối toàn bộ các hoạt động kinh tế. Từ nay các giá trị kinh tế lớn nhất đuợc làm ra không phải trong khu vực trực tiếp sản xuất của cải vật chất mà trong khu vực khoa học, kỹ thụật, dịch vụ. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên và của cải vật chất sẵn có ngày càng giảm so với tiềm năng trí tuệ, tinh thần, văn hoá. Nếu ba mươi năm trước, sự tiêu hao vật chất và năng lượng với nhịp độ khó kiềm chế nổi của nền văn minh công nghiệp truyền thống đã khiến các nhà kinh tế thuộc câu lạc bộ Roma lên tiếng kêu gọi các chính phủ ngừng tăng trưởng kinh tế ("tăng trưởng zê-rô") để ngăn ngừa thảm hoạ diệt vong, thì cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã đảo lộn tình hình và đưa nhân loại tiến lên một nền văn minh mới, cao hơn: nền văn minh trí tuệ, trong đó tăng trưởng không ô nhiễm môi trường sống. Trong xu thế toàn cầu hoá đi đôi với cạnh tranh quyết liệt, nền kinh tế tri thức tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho những nuớc đi sau có thể dựa vào tiềm năng chất xám để nhanh chóng đuổi kịp các nước khác, song cũng hàm chứa những thách thức to lớn, những khó khăn, rủi ro và cạm bẫy không phải luôn luôn dễ nhìn và dễ tránh. Trong lịch sử chưa bao giờ các đặc điểm tâm lý, trí tuệ có ý nghĩa quyết định như bây giờ đối với nền thịnh vượng, thậm chí sự tồn vong của một quốc gia. Trong các điều kiện ấy, sẽ không có gì lạ nếu tới đây bên cạnh một số nước tăng trưởng mau chóng thần kỳ có thể có những nuớc suy sụp thảm hại và tụt hậu vô vọng.

Vì vậy, phân tích để hiểu rõ những đặc điểm văn hoá, tâm lý của dân tộc, những truyền thống tốt, những yếu tố tích cực, thúc đẩy sự phát triển, cùng với những nhược điểm, những yếu tố chưa tốt, thậm chí tiêu cực, đang hoặc sẽ níu kéo chúng ta lại sau, là việc làm hết sức cần thiết để giúp xây dựng một chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp hoàn cảnh và điều kiện thế giới ngày nay. Cần nhìn lại kỹ bản thân ta không chỉ để tự tin hơn, mà còn để bớt chủ quan trước tình hình mới. Tự soi gương bao giờ cũng có ích, nhưng không phải chỉ để thấy mình đẹp mà còn để thấy mình có những khiếm khuyết gì cần phải sửa, thay vì cố tình bỏ qua hay che dấu.

Tuy nhiên, vấn đề nêu ra rất phức tạp về nhiều mặt, ở đây tôi không dám có tham vọng phân tích kỹ càng, chỉ xin trình bày đôi điều suy ngẫm, lạm bàn một số nét tiêu cực trong tâm lý người Việt Nam mà từ vị trí một người dân thường, một nhà giáo và một nhà khoa học đã khiến tôi băn khoan nhiều và mong muốn có dịp thảo luận để giúp chúng ta tự hiểu rõ mình hơn khi buớc sang thế kỷ 21.

Có thể nói từ ngày đổi mới và mở cửa chúng ta đã nhận thức đuợc tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng vật chất trong phát triển kinh tế và đã tập trung xây dựng năng lượng, giao thông, bưu điện, viễn thông, v.v.. Chỉ vài năm lại đây, khi tăng trưởng chững lại, chúng ta mới bắt đầu ý thức rõ hơn tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng tâm-lý-xã-hội: tập quán, đặc tính con người, cách nghĩ, cách làm việc, cách sống, quan niệm xử thế , v.v...

Cũng như mỗi con người, một cộng đồng dân tộc có những nét riêng không lẫn được với các dân tộc khác. Ví như đầu óc thực tế của người Mỹ, tính chính xác kỷ luật của người Đức, tinh thần coi trọng danh dự và tính ham học hỏi của người Nhật, sự thông minh tài hoa của người Do thái, tinh thần cố kết dân tộc của các cộng đồng người Hoa, v.v... là những đức tính dù chưa hẳn tiêu biểu cũng đã từng có tác dụng rất quan trọng trong quá trình phát triển lâu dài của các dân tộc kể trên.

Nói chung người Việt Nam chúng ta được đánh giá là thông minh, hiếu học, cần cù trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu. Đó là những đức tính hết sức quý báu, đã giúp cho dân tộc ta tồn tại được cho đến ngày nay, trải qua không ít thăng trầm suốt mấy nghìn năm lịch sử. Có thời, do tự tôn dân tộc quá đà sau những chiến thắng vẻ vang chống ngoại xâm, chúng ta nói về các đức tính ấy một cách say sưa, tưởng chừng như thế đã quá đủ để bảo đảm cho dân tộc ta, một khi được giải phóng khỏi ách đô hộ bên ngoài, sẽ nhanh chóng vươn lên về kinh tế, văn hoá, khoa học. Thực tế cho thấy không đơn giản như vậy. Ngày càng thấy rõ, trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước, ngay trong khu vực Đông Nam Á này, các đối thủ của ta đâu chịu thua kém ta về các mặt kể trên.

Đã đành dân ta thông minh, tài trí. Nhưng khi dẫn chứng sự thông minh của tổ tiên, nhiều người thường nghĩ đến tài đối đáp, ứng xử nhanh trí của các nhân vật như Mạc đỉnh Chi, Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hương, ... hay trong thời hiện đại, thành công của một số vị khoa bảng học giỏi, đỗ cao ở nước ngoài. Thật ra, học giỏi, đỗ cao thì thời nào cũng tốt, song việc học thời nay khác với thời xưa, và xã hội văn minh bây giờ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ học giỏi, đỗ cao, nhất là sự học giỏi hiểu theo quan niệm cũ kỹ của ta (Bill Gates bỏ học, không có bằng cấp cao, nhưng lại là tiêu biểu cho thứ tài năng đắc dụng nhất ở thời đại này). Chính cái quan niệm lạc hậu về học hành, thi cử, đỗ đạt ấy khiến cho xã hội ta nhiều khi chú trọng đào tạo học trò giỏi theo kiểu học gạo nhiều hơn là khuyến khích tài năng đích thực.
Không ai chối cãi người Việt Nam hiếu học, chuộng tri thức (tuy gần đây cái động cơ và phương pháp tìm đến và sử dụng tri thức đã bị méo mó khá nhiều). Thời đại này tri thức lại là của báu, vậy tưởng chừng dân ta đã có ưu thế cơ bản để đi vào thế kỷ 21. Thế nhưng vẫn chưa phải. Bởi lẽ cái động lực hàng đầu để thúc đẩy xã hội tri thức phát triển là đầu óc tưởng tượng sáng tạo, mà - tôi xin lỗi nếu phải nói ra một điều có thể xúc phạm tự ái dân tộc của nhiều người - chúng ta còn nghèo trí tưởng tượng. Thật vậy, những ai còn nghi ngờ điều này xin hãy bình tĩnh đảo mắt nhìn qua một lượt các kiểu nhà biệt thự mới mọc lên ở thành phố trong thời mở cửa, và dạo qua các cửa hiệu, các chợ đầy ắp hàng Trung Quốc, hàng Thái Lan đang nghiễm nhiên tràn ngập thị trường. Từ quần áo, đồ chơi trẻ em, đồ dùng văn phòng, cho đến xe đạp, quạt máy, v.v.., nhiều hàng nội của ta không cạnh tranh nổi vì thua kém mẫu mã, hình dáng, chủng loại, giá cả, và nhiều khi cả chất lượng, công dụng. Đâu phải kỹ thuật ta không đủ trình độ làm ra các sản phẩm như họ. Chẳng qua chúng ta từ lâu quá quen sao chép, ít chịu khó nghĩ ra ý tưởng mới. Nhìn lại từ cái bàn, cái ghế, cái giường, cho đến cây bút, cái cặp sách thời bao cấp ở miền Bắc mới thấy rõ sao mà ta tự bằng lòng dễ dàng đến vậy, có thể nói 50 năm không hề suy nghĩ thay đổi. Cả đến cách dạy, cách học ở nhà trường. Thời tôi đi học, tôi đã học toán như thế nào thì bây giờ các cháu học sinh phổ thông cũng học gần y như thế, chỉ có khác là lớp chuyên rất nhiều và học thêm, luyện thi vô tội vạ.

Đương nhiên ở đây có vấn đề hoàn cảnh và cơ chế, bởi vì cũng những con người ấy, hay cha chú họ, lại có đầu óc tưởng tượng phong phú biết bao trong cuộc chiến đấu chống xâm lược. Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, ông bà ta bị lối học từ chương khoa cử gò bó tư duy, cho nên so với nhiều dân tộc khác chúng ta ít có những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ mà ảnh hưởng sau nhiều thế kỷ còn tiếp tục tác động đến xã hội. Ta cũng ít có những công trình kiến trúc đồ sộ, dựa trên sức tưởng tượng phóng khoáng đáng kinh ngạc, huy động hàng vạn, hàng chục vạn con người lao động xây dựng hết thế hệ này sang thế hệ khác, trong hàng trăm năm. Về văn học, những tác phẩm hay nhất của ta cũng chủ yếu làm say đắm lòng người bởi văn chương mựơt mà trau chuốt, gợi cho ta những tình cảm ưu ái thiết tha, giúp ta hiểu thấu hơn nhân tình thế thái. Chứ cũng ít có những pho truyện lớn, với tình tiết phức tạp, ý tưởng kỳ lạ, độc đáo, lôi cuốn ta vào những thế giới nửa thực nửa hư, vượt ra khỏi các giới hạn thực tại tầm thường. Phải chăng ta không có các loại tiểu thuyết như Tam Quốc, Thuỷ hử, Hồng Lâu Mộng, hay các truyện của A. Dumas, Victor Hugo, L. Tolstoi, Dostoevski,..., điều đó ít nhiều cũng nói lên cái nhược điểm của dân tộc ta?

Einstein đã có một câu nói nổi tiếng: trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức. Giờ đây, tại nhiều đại học ở phương Tây câu nói ấy được coi như một khẩu hiệu, một phương châm đào tạo để bước vào thế kỷ mới, khi mà ai cũng biết và cũng tin rằng tri thức là yếu tố quyết định sự phồn vinh của các quốc gia.
Mới nghe tưởng như một nghịch lý, nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc, tổng kết kinh nghiệm của một nhà bác học lỗi lạc bậc nhất mà cống hiến vĩ đại đã tạo điều kiện mở đường cho sự ra đời nền văn minh trí tuệ. Ai cũng biết tri thức cực kỳ quan trọng, thời nay càng quan trọng hơn bất cứ thời nào trước đây, nhưng ý nghĩa thời sự của chân lý đó là, hơn bất cứ thời nào trong lịch sử, tri thức mà thiếu sức tưởng tượng dễ biến thành tri thức chết, tri thức vô dụng, không có tiềm năng phát triển. "Biết" và "hiểu" là rất cần để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để sáng tạo, khám phá. Thời nay hơn bao giờ hết, những tác phẩm không hồn, không cá tính, những sản phẩm không mang theo dấu ấn gì đặc biệt, nhàm chán như bao nhiêu thứ lặp đi lặp lại hàng ngày trong cuộc sống bằng phẳng, thì vô luận đó là ý tưởng, dịch vụ hay vật phẩm tiêu dùng cũng đều không có sức thu hút và do đó không có sức cạnh tranh. Cho nên, thiếu sức tưởng tượng là một khiếm khuyết lớn mà tới đây ta phải cố gắng khắc phục bằng mọi cách, truớc hết từ cơ chế quản lý xã hội và sự chấn hưng nền giáo dục từ nhiều năm chỉ thiên về nhồi nhét trí nhớ, bắt chước máy móc, và kiềm chế cá tính.

Đi đôi với trí tưởng tượng chưa đủ phong phú, một loạt đức tính cần thiết khác để cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế toàn cầu hoá cũng chưa rõ rệt là mặt mạnh của người Việt Nam so với nhiều dân tộc khác: đầu óc kinh doanh hiện đại, cung cách làm ăn lớn, tính toán nhìn xa, trông rộng, táo bạo, nhạy cảm và năng động với cái mới, thích ứng mau lẹ để xoay chuyển tình thế khi gặp khó khăn, bền bỉ và quyết tâm theo đuổi đến cùng một sự nghiệp được yêu thích, miệt mài học tập, ngẫm nghĩ và phân tích sâu sắc, nghiên cứu nghiêm túc để tìm hiểu cặn kẽ đạo lý của mọi vấn đề. Có lẽ do quá lâu quen sống trong cảnh nghèo thiếu nên người dân ta nhiều khi dễ nhẫn nhục an phận, dễ bằng lòng với những thay đổi nhỏ, những suy tính cá nhân hời hợt, thiển cận theo lối cò con. Vì không cực đoan nên ít có đổ vỡ lớn, nhưng dễ bảo thủ, ít dám chấp nhận rủi ro tìm con đường mới do đó cũng dễ lâm vào trì trệ triền miên. Không có thói quen tính toán hiệu quả, thiếu đầu óc thực tế, lại ham chuộng hình thức, chạy theo hư danh viển vông, kém khả năng và kinh nghiệm hợp tác, góp sức cùng nhau thực hiện một mục tiêu, một kế hoạch lớn, cho nên ít xây dựng được êkip mạnh về một lĩnh vực nào, thường chỉ có nhiều cá nhân giỏi đứng riêng lẻ mà không hợp lại được để tạo ra synergy cao, hình thành những tập thể hùng mạnh, xuất sắc. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng thể hiện ít nhiều một tinh thần rời rạc như thế, ý thức đoàn kết giúp đỡ nhau không được như các cộng đồng Do thái hay Hoa kiều, cũng do đó ít có người giàu thật lớn, ít có nhà khoa học thật tầm cỡ, thường chỉ đến một địa vị nào đó là thoả mãn, mệt mỏi, không mấy người đeo đuổi tham vọng thật cao xa. Tất cả những nhược điểm trên, nếu không chú ý khắc phục, đều sẽ trở thành những lực cản không cho phép chúng ta tiến nhanh ở thời đại kinh tế tri thức này. Một câu hỏi đặt ra: tại sao trong chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam có thể tỏ ra xuất sắc vô song về trí tưởng tượng, về thông minh, tài trí, dũng cảm, mà trong xây dựng thời bình chưa đuợc như vậy? Phải chăng vì ta chưa khêu gợi, nuôi dưỡng được trong nhân dân một ý chí tự cường mạnh mẽ, một quyết tâm rửa nhục nghèo nàn lạc hậu cũng cao ngang như quyết tâm rửa nhục mất nước trước đây?

Tuesday, May 4, 2010

Người về bên dòng Thạch Hãn

Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm- Đăng bởi Tuan Viet Nam -02/05/2010

Hằng năm tôi vẫn trở về lại dòng sông Thạch Hãn ở Quảng Trị, đứng bên bờ sông cũ, nơi miếng đất mà 35 năm trước đã từng là căn nhà thơ ấu của tôi. Dòng sông vẫn như xưa. Vẫn đôi bờ, bên lở, bên bồi. Ở nơi mà dòng nước chảy ngang qua vùng đất này, những tháng ngày của hơn 35 năm trước, bao nhiêu bom đạn và máu xương đã đổ xuống đây.

Tôi nhìn dòng nước phản chiếu dưới ánh nắng ngày hè của miền Trung, nhìn kỹ vào từng khoảng bờ đất lở loang lổ, như là nhìn lại chính lòng mình với đầy vết thương từ quá khứ. Tôi nhìn qua bên phải của bụi tre cuốn mình trong gió để coi lại cái hố bom B52 vẫn còn trũng xuống nơi mà nền nhà của tôi đã từng ở đó. Không ai nhìn lại nỗi đau trên ba lần - người ta có nói. Nhưng tôi đã nhìn lại cái hố bom đó, nhìn lại bờ đất lở Thạch Hãn này đã nhiều nhiều hơn là ba bốn lần. Nhìn lại vết thương của mình có lẽ là một phương thức trị liệu tinh thần cho một con người đã đi xa quê nhà nhưng chưa từng rời khỏi quê hương.

Năm nay, một ngày 30 tháng Tư nữa lại về. Tôi nhớ lại trong huyền thoại cổ xưa của Hy Lạp thì cái gì đã xẩy ra sẽ xảy ra lần nữa, và lần nữa, trở lại mãi mãi, trong tương lai. Nó sẽ trở lại không phải vì bản chất biến cố chỉ nằm trên bình diện vật thể - mà là của tâm thức. Mọi chuyện ở thế gian từ thực tính là hiện thân của một ý niệm, một thoáng của tâm. Thời quán ý niệm này là khuôn thức cho hiện tượng. Và con người với hiện trạng bị đày đọa vào lịch sử trần gian chỉ là một nét cọ trên bản vẽ của dòng tâm ý vĩnh hằng này.

Vâng! Ngày 30 tháng 4, 1975 là một chuyện đã xảy ra hầu như rất xa vời trong quá khứ. Đã 35 năm rồi còn chi? Nhưng cái tâm ý về sự kiện lịch sử này vẫn còn đó bên ngoài cõi hiện tượng lịch sử.

Tôi nhớ lại mùa Hè năm 1972. Khi dòng Thạch Hãn đã là chiến tuyến mới chia cách đôi bờ. Tôi đã đứng bên ni, nhìn sang bên tê, kẻ thù đâu không thấy, người thân cũng bặt dạng tăm hơi. Tôi đã chỉ thấy lấp lánh bóng dáng chính mình phản chiếu dưới mặt nước cùng với luỹ tre kia.

Bây giờ là mùa Hè 2010. Có những lần bên bờ biển từ California tôi nhìn về phía Tây, tưởng như là nhìn thấy bờ biển Việt Nam, cũng bên này, bên kia, như cũ, như xưa. Nhưng bến bờ đâu thấy. Tôi chỉ thấy vất vưởng những bến bờ quá khứ vẫn còn chia cách như là một tâm tưởng của cõi vĩnh hằng đứng trên thời gian và không gian hữu hạn. Cái mất, cái còn như là bên bồi bên lở từ một cuộc chiến xưa cũ vẫn hằn sâu như là bờ đất của con sông Thạch Hãn hôm nay.

Mỗi lần dân tộc Việt Nam phải kinh qua một sự kiện lớn - như ngày 30 tháng Tư của 35 năm trước - cái được, cái mất đã là một sự bù trừ. Từ chính cá nhân mình, tôi mất hết quá khứ để có được một tương lai khác. Từ lịch sử, dân tộc ta đã bước qua một chân trời ý thức mới mà nhu cầu ngày cũ nay đã không còn. Từ bình diện vĩnh hằng, một thoáng ý niệm về hiện tượng con người Việt Nam đã hoàn tất một thời quán tiến hóa.

Thả hoa tưởng niệm trên dòng Thạch Hãn, Ảnh TTVH

Tôi đã bao lần tự nhủ rằng đừng cố níu kéo cái gì đã mất. Nhưng cái gì tự nó đã xảy ra thì phải đi theo quy luật vượt qua chủ ý con người. Tôi so sánh chuyện này tới sự kiện bồi lở của dòng sông đang đe dọa khu vườn nhà ấu thơ, tôi đã cố gắng tìm cách chặn bờ đất, nhưng cuối cùng, như là lịch sử và hoài niệm, nó vẫn như là dòng sông Thạch Hãn cứng đầu và mãnh liệt, vẫn ngang tàng chuyển động theo quy luật vĩnh hằng.

Ít nhất, cho đến khi, chính mình và dân tộc có một cái Tôi khác, đứng cao hơn một nấc, để nhìn kỹ vào dòng lịch sử, bên lở bên bồi này, nhìn ra vết thương lòng, công nhận nó là một nỗi đau chung của Việt Nam, không riêng chi mình, không chỉ là hơn, là thua, mà là đôi bờ phải được bao gồm vào tâm ý.

Nhưng với cái tôi đang là, cứ mải nhìn hố bom, nhìn bờ đất lở của làng xưa, mà quên bẵng đi rằng, dưới dòng nước kia, vẫn còn đó chuyến đò kiên tâm chở dân làng qua chợ Hôm mỗi buổi chiều. Chuyến đò vẫn còn, dù mái chèo nay đã thay bằng động cơ dầu, với những chiếc nón lá, những gánh rau, quả, cuộn lá chuối của bà con. Tôi hình dung ra hình ảnh mạ tôi, em gái tôi đang gánh rau, lá chuối qua sông đi chợ mua mắm ruốc về lo cho con, cho cả nhà. Chuyến đò sang sông đó, trước và sau 30 tháng 4 năm 1975, vẫn còn đang nối liền hai bờ, mãi mãi với dòng chảy thời gian.

Tôi lắc đầu trở về với thực tại, từ giã hố bom, khu vườn, bờ đất lở để đi lần xuống bãi cát, bước lên mái đò chòng chành. Tôi muốn vượt qua sông này thêm lần nữa. Bác lái đò nhìn tôi cười sún răng trong ngạc nhiên: "Ôi chao, chú Liêm hà! Chú về khi mô rứa?" "Dạ chào bác, tui mới lại trở về".

Saturday, May 1, 2010

Thư gửi một người anh trong quân ngũ

"Anh kính mến,

Em rất vui nhận được email của Anh.
Hôm nay là ngày kỉ niệm lớn của nước ta, ngày kỉ niệm kết thúc chiến tranh và thống nhất đất nước. Trong ngày này, em cũng vui nhưng cũng có suy nghĩ rằng giá như đừng có cuộc chiến tranh này thì vẫn tốt hơn.

Đất nước mình có diện tích nhỏ, nhưng đã phải gánh chịu một cuộc chiến tàn khốc kéo dài bậc nhất thế kỷ 20; tàn khốc nhất xét trên lượng bom đạn Mỹ đã dùng và số người tổn thất trên từng mét vuông đất. Nước Mỹ đã phải chịu thất bại. Việt Nam thì bị tổn thất nặng nề về mọi mặt. Mỹ chỉ mất trên 50 000 người một chút, còn người Việt Nam mình thì mất hàng triệu người.

Trong khi mình động viên từng thanh niên, từng cân thóc gửi ra chiến trường, thì một số quốc gia trong khu vực, từng được gọi là "thuộc địa kiểu mới", đã tập trung phát triển kinh tế, và nay họ đã trở thành những quốc gia phát triển, như Nhật Bản, Hàn quốc, Singapore,....

Và đã có một sự không khớp nhau đáng suy nghĩ: Trong khi hàng triệu chiến sỹ của mình đi vào chiến trường tin tưởng rằng đang chiến đấu vì độc lập của tổ quốc; thì phía bên kia, hàng triệu lượt binh sỹ Mỹ đến Việt Nam tin rằng đến để bảo vệ nền dân chủ và thế giới nhân bản tự do như cha anh họ đã làm trong chiến tranh thế giới thứ 2.

Vì vậy, nếu như thời gian có thể quay ngược lại, chắc rằng nhiều quyết định đã sẽ khác đi và chiến tranh đã được tránh khỏi.

Trong những ngày gần đây, em cũng vui nhiều khi thấy dường như Việt Nam mình đã bước đầu thành công trong việc xoay xở với vấn đề Biển Đông.
Thật ra, Biển Đông không chỉ giới hạn ở tài nguyên bên dưới hay địa giới lãnh thổ, mà nó, trong một số kịch bản nhất định, sẽ là nơi hội ngộ và cạnh tranh của nhiều thế lực lớn sau này. Nếu Việt Nam mình có cách thức tốt, thì sẽ nhận được nhiều lợi ích từ sự hội tụ đó để không chỉ bảo vệ được lợi ích của mình mà còn phát triển nhanh hơn.

Em cũng vui vì trong dịp kỉ niệm này, tư tưởng hòa giải và nhân đạo dường như đang được nói nhiều hơn. Như vậy có thể hy vọng đến một tương lai khi hầu hết người Việt Nam đều vui, và cùng nhau nghĩ về tổ quốc.

Suy nghĩ như vậy nhưng em chân thành tri ân những người đã hy sinh vì đất nước mình, và tri ân các Anh, Chị, Em đang công tác trong ngành quốc phòng, trong đó có nhiều đồng trang hay trẻ hơn em. Các Anh Chi và cả các Em đã nhận nhiệm vụ đi bảo vệ quốc gia, dành cho em cơ hội đi học tập ở nước ngoài. Đó là điều mà em các bạn của mình phải ghi nhớ.

Cuối thư, em kính chúc Anh và gia đình có được kỳ nghĩ lễ hạnh phúc và mọi điều tốt đẹp nhất.

Kính mến"

Thursday, April 8, 2010

Tuổi trẻ và bản lĩnh tự khẳng định mình

“Một con người có bản lĩnh” - đó là một lời khen tặng biểu thị một đánh giá về nhân cách. “Một dân tộc có bản lĩnh” thể hiện trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ấy, là niềm tự hào của những thành viên trong cộng đồng người kết thành dân tộc, và điều đó được thế giới biết đến.

Vì rằng, "có những đất nước mà người ta chẳng biết gì ngoài cái tên, và cả cái tên cũng lạ hoắc. Còn với Việt Nam, một đất nước cũng xa xôi, nhưng tôi đã nghe về các bạn qua lịch sử, qua văn hóa lâu đời, những cuộc chiến tranh oanh liệt, và đặc biệt là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh". Hình như nhận định của của Philip Kotler, người được xem là chuyên gia lừng danh về marketing ấy, không là "một cách marketing" về Việt Nam khi ông là khách mời được trân trọng ở đây cách nay không lâu. Chắc đây không chỉ là ý tưởng riêng của Philip Kotler!

Tuy vậy, đừng quên rằng, cũng đã có lúc dân tộc này dường như đã gần biến mất trong cả một mưu đồ đồng hóa suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc từ năm 111 trước CN cho đến năm 905 sau CN. Sau gần mười thế kỷ kiên cường đấu tranh để tồn tại vớii tư cách là một quốc gia độc lập, lần lượt đánh tan các đạo quân xâm lược phương Bắc, thì đến nửa đầu thế kỷ XIX, tên của quốc gia ấy bị xóa khỏi bản đồ thế giới trong ngót một trăm năm đô hộ của phương Tây, để rồi người ta chỉ biết đến một bộ phận của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Thế là đến cái tên cũng chẳng còn chứ không phải chỉ là "lạ hoắc"!

Ấy thế mà sau một nghìn năm chìm trong đêm dài trung cổ, dân tộc ấy vẫn đứng dậy được. Mà đứng sừng sững trước một thế lực phong kiến phương Bắc chưa lúc nào ngừng tham vọng nuốt chửng một dân tộc sống trên mảnh đất phương Nam cứng đầu không chịu khuất phục "thiên triều". Không chỉ là không chấp nhận sự đồng hóa về văn hóa trong tiến trình tiếp biến văn hóa, mà còn không chịu nhượng bộ một thước núi, một tấc sông trước tham vọng bành trướng về phía Nam với mọi thủ đoạn thiên biến vạn hóa: khi thì dùng sức mạnh quân sự "lấy thịt đè người" với bao binh hùng tướng mạnh tràn sang để rồi ôm đầu chạy trốn như Thoát Hoan, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị...; khi thì bằng "mưu ma chước quỷ" mua chuộc, lôi kéo những loại Việt gian kiểu Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.

Chỉ đơn thuần nhìn vào vị thế địa chính trị và tham vọng chưa bao giờ dứt của các thế lực phong kiến phương Bắc thì người ta hay nói về cái thế kẹt "trứng nằm dưới đá", nhưng bằng bản lĩnh của chính mình, dân tộc ấy vẫn kiên cường tồn tại và phát triển bằng những chiến công được tạc vào lịch sử của thế kỷ XIII, thế kỷ XV, thế kỷ XVIII. Và rồi vào thế kỷ XX, sau một trăm năm nô lệ, dân tộc ấy đã đứng dậy làm cách mạng giải phóng dân tộc, đánh sụp chủ nghĩa thực dân cũ, kéo theo nó là cả phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, làm sụp đổ cả hệ thống thuộc địa, tiếp đó lại đánh tan chủ nghĩa thực dân mới, đứng đầu bởi một đế quốc chưa từng biết đến mùi thất bại trên thế giới.

Đó là một sự thật lịch sử. Mỗi một người Việt Nam, không phân biệt ý thức hệ, tôn giáo tín ngưỡng, đang ở trong hay ở ngoài nước đều có quyền tự hào về lịch sử dân tộc mình, và đều có thể cảm nhận niềm hạnh phúc vì đã biết tự hào về bản lĩnh của dân tộc mình. Hoàn toàn không là chuyện phải viện đến quá khứ nhằm mượn tên tuổi và y phục của người xưa để hiện lên trên sân khấu mới của lịch sử. Mà là, từ ánh phản chiếu của lịch sử để rọi sáng cái bản lĩnh vốn tiềm tàng trong sức sống của dân tộc, có lúc trước những bề bộn bê bối của cuộc mưu sinh, những tầm nhìn thiển cận và sai lầm ở một vài đường đi nước bước của sự nghiệp đất nước, trong những khúc quanh của dòng chảy bất tận của cuộc sống... cứ tưởng như bản lĩnh ấy đã phôi pha, thất thoát.

Nhưng không! Bản lĩnh ấy vẫn chìm sâu trong đời sống dân tộc, khi được khơi dậy, nó sẽ bùng phát mạnh mẽ. Đặc biệt, thế hệ trẻ của dân tộc ấy phải thấy cho rõ, cho sâu để biết tự hào về bản lĩnh ấy, biết phát huy bản lĩnh ấy lên một trình độ mới tương thích với đòi hỏi mới của quá trình hội nhập và phát triển hiện nay. Khơi dậy niềm tự hào dân tộc để đặt nền tảng cho tuổi trẻ tự khẳng định bản lĩnh của chính mình là việc có ý nghĩa vừa trực tiếp vừa lâu dài.

Vấn đề là biết cách khơi dậy. Vì, bản lĩnh dân tộc là chuyện của hiện tại chứ không chỉ là chuyện lịch sử. Cái tọa độ hôm nay cho phép nhận ra quá khứ và hiện tại vẫn liên thông với nhau, cho nên thế hệ trẻ hôm nay hoàn toàn có thể cảm thông và xúc động trước cái bản lĩnh toát lên từ một câu thơ: "Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành xứ hành" - làm trai phải có chí xông lên trời thẳm, việc gì cứ phải lẽo đẽo theo vết chân của Phật tổ Như Lai! Đây là một câu trong bài thơ "Đừng đi theo bước Như Lai" [Hưu hướng Như Lai] của Thiền sư Quảng Nghiêm viết cách đây mười thế kỷ.

Ngẫm cho sâu, thì ra chính cái bản lĩnh dám là mình, bản lĩnh sáng tạo tự tìm đường mà đi tới chứ không chịu giẫm lên vết chân của người khác, bản lĩnh ấy chống giáo điều từ gốc, dám bứt phá không chỉ từ ngọn, đã khiến cho dân tộc ta tồn tại và phát triển đến hôm nay. Hơn ai hết, lớp trẻ hôm nay phải nhận thức cho được cái chân lý lích sử ấy. Nếu dân tộc ta không có bản lĩnh tự khẳng định mình, không dám là mình thì đã bị nuốt chửng từ lâu rồi.

Chính cái bản lĩnh "có cứng mới đứng đầu gió" đã tạo nên cái nền tảng vững chắc cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc ta qua biết bao thách thức, hiểm nguy. Và dường như càng đương đầu với những thử thách khốc liệt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, dân tộc ta càng dày dạn, càng kiên cường, nhất là khi bị dồn vào chân tường thì sức bật dậy càng mạnh mẽ để tạo ra những bước đột phá mà đi tới. Những sự kiện lịch sử của thế kỷ XIII, XV, XVIII, XX vừa nhắc đã chứng minh rõ điều đó.

Ảnh: nvhtn.org.vn

Để tạo ra được bản lĩnh tự khẳng định mình, bản lĩnh dám là mình của thế hệ trẻ hôm nay cần có rất nhiều việc phải làm từ việc thể hiện nội dung đó trong Cương lĩnh, trong Chiến lược của Đảng và trong chủ trương, chính sách của Nhà nước. Ở đây chỉ xin gợi lên hai vấn đề :

1. Nếu không có một lớp trẻ dám có bản lĩnh tự khẳng đình mình, dám suy nghĩ, dám bứt phá bằng khối óc và trái tim của chính mình, mà chỉ biết ngoan ngoãn "gọi dạ bảo vâng", "ăn theo nói leo" thì làm sao tạo ra sức bật cho dân tộc trong thời đại hôm nay? Nếu chỉ bằng lòng với đám con cháu quen nếp "gọi dạ bảo vâng" ấy, một lời ban ra từ các bậc cha chú là được răm rắp vâng dạ, cung cúc cúi đầu tuân phục, thì chắc chắn các bậc cha chú còn giữ nguyên tập quán của quyền uy gia trưởng sẽ lấy làm hài lòng và an tâm. An tâm vì như vậy là tạo được sự "ổn định" cho cái ghế của mình. Cái ghế thì ổn, nhưng đại sự thì bấp bênh vì sức quật khởi của dân tộc dân tộc đang suy yếu và tàn lụi.

Đừng quên rằng, đã có một thời, phương châm trị nước được viện dẫn theo tư tưởng của Mạnh Tử chính là: "Người người thân yêu cha mẹ mình, kính trọng bề trên của mình, thế là thiên hạ bình" [Mạnh Tử. Thiên Ly Lâu thượng]. Tư tưởng ấy đươc củng cố trên nguyên lý "thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà". Vì thế, phương châm hành động của tuổi trẻ được quyết liệt răn dạy là: "nối tiếp, làm theo, không thay đổi" [kế, thuật, vô cải]! Cho nên, những nhà tư tưởng của chế độ phong kiến thường lo ngại "lớp người sắp đến không như lớp người hiện nay" [Lai giả bất như kim dã], vì thế mà "hậu sinh khả úy" [Luận ngữ. Thiên Tử Hãn]. Ngoài cái ý về lớp hậu sinh sẽ vượt qua các bậc tiền bối còn có cái ý sợ chúng không còn dễ bảo như xưa!

Những vang bóng một thời vừa nhắc lại ấy tưởng đã quá lạc lõng với nhịp sống hiện đại. Nhưng xem ra, đây đó bóng dáng của chúng vẫn ám ảnh cuộc sống đương đại. Và hình như một số chiêu thức cổ xưa ấy vẫn còn đất dụng võ trong thời đại của nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức đang mon men thâm nhập vào đất nước này!

Phải chăng bóng dáng và những "chiêu thức" cổ xưa ấy là cái kiểu "răn dạy" bằng những áp đặt một chiều từ trên dội xuống mà không chấp nhận sự phản ứng từ dưới bật lên. Một lớp trẻ "dễ bảo", không dám có chính kiến, không dám tự mình suy nghĩ, tìm tòi khám phá mà luôn phải nhờ đến người khác cầm tay chỉ việc sẽ làm hài lòng một số đầu óc thiển cận và độc đoán, muốn mỗi mệnh lệnh mình ban ra là phải được "quán triệt", được cung cúc phục tùng không có hoài nghi, chất vấn, không có phản biện và chắc chắn là không được đối lập!

Những chiêu thức cổ xưa ấy vẫn hiện diện trong cuộc sống dưới những dáng dấp có khi tinh vi, có khi sống sượng, khiến cho lớp trẻ phản ứng trở lại cũng bằng nhiều dạng thức cũng tinh vi hoặc sống sượng muôn hình muôn vẻ như thế! Điều này không có gì khó hiểu: "Mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoá" [Ph. Ăngghen]. "Cái trạng thái cũ đang suy đồi" là một diễn giải mang tính khái quát triết học. Song trong thực tế thì chúng hiện diện như những thực thể quyền uy bằng xương bằng thịt nhưng đã được "tập quán thần thánh hóa". Chính cái "tập quán" đáng sợ đó dung dưỡng cho những áp đặt một chiều làm thui chột sức bật và khả năng sáng tạo của thế hệ trẻ.

Hệ lụy của sự áp đặt ấy nhiều khi ẩn giấu dưới những trạng thái tiêu cực có khi kỳ quặc trong lớp trẻ, như những hành vi hung bạo, gây gổ, đập phá làm rối loạn kỷ cương, cùng với những cái mà người ta gọi là sự xuống cấp về đạo lý, về nhân phẩm của lớp trẻ đang gây bức xúc trong xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự nhìn nhận và phân tích nghiêm cẩn và khách quan để tìm đúng nguyên nhân, phải nhìn cho ra trong đó còn là cách chống trả lại sự áp đặt một chiều của những giải pháp mang tính phản dân chủ, phản tiến bộ.

2. Trong dịp lấy ý kiến nhân dân đóng góp vào các văn kiện sẽ trình ra Đại hội XI của Đảng, cần phải có một hoạt động sôi động và thiết thực trong lớp trẻ. Phải làm sao để lớp trẻ, sinh lực của dân tộc và cũng là nguồn sống của Đảng phải được nói lên chính kiến của mình, nói một cách thẳng thắn, mạnh dạn và trực tiếp với tinh thần trách nhiệm cao về ý kiến của mình.

Phải làm sao cho lớp trẻ "không rụt cổ" như "nhân dân rụt cổ" như trong một bài viết mới trên VietNamNet ngày 26/3/2010: "Không chỉ nhân dân chung chung như chúng ta đã nói quá nhiều mà là những "nhân dân" cụ thể trong nhiều cơ quan Nhà nước đã lâu nay dùng liệu pháp "co mình trong vỏ ốc" trước những vấn đề của cơ quan đó. Thường là thủ trưởng hay phó thủ trưởng chủ trì những buổi họp hay những đợt lấy ý kiến về vấn đề của cơ quan đó, của ngành đó hoặc lớn hơn của đất nước và kêu gọi nhân dân phát huy dân chủ, đóng góp ý kiến. Nhưng nhân dân rụt cổ, nhân dân đùn đẩy cho nhau, nhân dân tìm những góc kín trong hội trường hay phòng họp cơ quan để xin hai chữ "bình an". Rồi nhân dân giơ tay biểu quyết mà chẳng có cảm xúc gì và nhân dân nhanh chóng lao ra khỏi phòng họp như chạy trốn khỏi một cuộc truy đuổi nào đó".

Đó là một sự thật phũ phàng đã được nhìn thẳng, nói thẳng. Mong rằng sự nói thẳng đó đến được với lớp trẻ . Phải làm sao cho lớp trẻ tránh được thực trạng đau lòng đó. Đây là nhiệm vụ trực tiếp của Đoàn Thanh niên. Nhưng chỉ Đoàn Thanh niên chắc không thể làm được nếu không có sự "bật đèn xanh" từ các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền và cả hệ thống chính trị.

Bản lĩnh của thế hệ trẻ được thể hiện muôn hình muôn vẻ trong mọi hoạt động. Tuy nhiên, thời điểm thử thách nhất cho việc thể hiện bản lĩnh ấy phải là dịp tuổi trẻ góp phần xây dựng Cương lĩnh và Chiến lược xây dựng đất nước do Đại hội XI của Đảng sẽ đề ra. Đảng đã có chủ trương công bố các Dự thảo quan trọng đó để toàn dân tham gia, chẳng những thế, lần này còn xác định "Lấy ý dân - vấn đề cốt tử của Đảng".

Tuổi trẻ phải thể hiện mình trong vấn đề cốt tử này của Đảng! Để làm được điều này, cần có những chuyển biến mới trong các hoạt động của Đoàn Thanh niên, mạnh dạn tổ chức những hình thức sinh động và sáng tạo cho các tầng lớp, các bộ phận thanh niên ở nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, hoạt động khác nhau có cách tham gia đóng góp vào các văn kiện của Đảng.

Càng tin ở thanh niên, càng phải chân thành và nghiêm túc lắng nghe nguyện vọng và ý chí của tuổi trẻ. Càng có nhiều ý kiến mạnh mẽ, quyết liệt được trình bày công khai, được tranh luận công khai sẽ càng là thước đo về bản lĩnh của tuổi trẻ và trình độ dân chủ mà xã hội đạt được.

Thật ra thì đây không chỉ là yêu cầu của thanh niên ta. Đây là một vấn đề mang tính thời đại. Trong cuộc thi dành cho lứa tuổi 16-18 trả lời câu hỏi "Ai là nhân vật quan trọng nhất thế kỷ 21"?, tạp chí Time đã trao giải nhất cho cô bé Carolin Pan, 16 tuổi, ở thành phố Quezon của Philippines với câu trả lời: "Tôi". Cô bé nói: "Tôi sẽ hét to điều này với tất cả thành phố nếu cần phải làm như vậy. Tôi cho rằng chính tôi, một học sinh trung học, là người quan trọng nhất thế kỷ. Tôi còn chưa ghi dấu ấn của mình vào lịch sử thế giới, và tôi không hề khao khát trở thành một Albert Einstein hoặc Bill Gates khác. Bởi vì tôi chỉ muốn là tôi... Chúng ta không biết cái gì hay hơn sao? Chúng ta không thể thử ghi dấu ấn bằng chính con người thực sự là của mình hay sao?"

Để tuổi trẻ khẳng định bản lĩnh của mình, dám là mình, thì phải dám mạnh dạn tổ chức trong thanh niên những hoạt động tranh luận về những vấn đề cốt tử của đất nước. Mà đã là tranh luận thì tất yếu sẽ có những ý kiến khác nhau tuy cùng đều lo toan cho vận mệnh của đất nước, của dân tộc, của Đảng. Về điều này xin nhắc lại ý kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng trong một cuộc trao đổi về văn hóa: "Đừng có sợ, đừng có sợ một chút nào những ý kiến khác nhau! Nếu tất cả giống nhau thì xã hội thật là buồn! Ai không chấp nhận được điều này là vô văn hóa, phản văn hóa. Và những người này không thiếu đâu. Và điều đó dễ hiểu"! [1]

Tuesday, March 16, 2010

Làm cách nào để thành công trong khoa học?

Đây là bản dịch của một bài viết rất hài hước về cách thức làm việc của các nhà khoa học “dỏm”. Bài viết này (nguyên bản tiếng Anh) từng được trao giải thưởng “Bài báo hay nhất trong năm” của Tập san Perspectives in Biology and Medicine. Có lẽ qua bài viết, người ta muốn cảnh cáo những ai nuôi ảo vọng làm khoa học theo hiểu mà tác giả nêu lên dưới đây. Cố nhiên, ý của tác giả là nếu các bạn muốn trở thành một nhà khoa học chân chính thì phải làm tránh hay thậm chí làm ngược lại những “lời khuyên” trong bài này. .

Dường như phần đông các nhà khoa học trẻ chưa được huấn luyện về những phương cách để thành công trong hoạt động khoa học, như xin tài trợ, được giới đồng nghiệp ghi nhận, hay có một bản lí lịch dài hơn danh sách các bài báo đã công bố, v.v... Để khắc phục sự thiếu sót này, tôi xin trình bày một số chỉ dẫn cụ thể sau đây. Cố nhiên, thỉnh thoảng cũng có vài chú cừu đen, những chú cừu nhất định theo đuổi một lí tưởng khoa học, bất chấp thành công hay được ghi nhận hay không, và trong trường hợp đó, những chỉ dẫn sau đây sẽ không áp dụng cho họ. Tuy nhiên, chú ý rằng những nguyên lí được trình bày sau đây sẽ giúp cho các bạn một cái khung để xây dựng và bồi đấp thêm.

1. Thoải mái! Chúng ta chỉ ở giữa cái gọi là “mô thức” (paradigm) và cách mạng mà thôi. Phần lớn những lo lắng, phiền muộn gắn liền với việc nghiên cứu khoa học ngày nay đã được Thomas Kuhn giải tỏa từ lâu lắm rồi. Đại đa số các nhà khoa học ngày nay chỉ làm nghiên cứu khoa học bình thường, làm khoa học trong mô thức, chẳng hạn như phân tích các phân tử trong nước. Những tiến bộ thực sự phải chờ đến một cuộc thay đổi về mô thức và chỉ xảy ra trong tương lai.

Do vậy, các bạn nên thoải mái, vì những nghiên cứu của các bạn sẽ chẳng có tác dụng gì lâu dài cả. Dĩ nhiên, có người có thể sẽ tham gia vào việc làm thay đổi mô thức, và chẳng ai có thể ngăn cản họ. Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học khác cần nhận thức rằng việc làm sáng tỏ mô thức đương đại là cần thiết cho những cuộc cách mạng khoa học trong tương lai. Thử tưởng tượng xem: muốn đưa ra những cống hiến cơ bản làm thay đổi lối suy nghĩ của mọi người, làm cho mọi người phải xem xét lại những giả định mà họ dùng trong nghiên cứu hàng ngày thì nó khó biết là dường nào. Chẳng phải là một việc đội đá vá trời ư!

2. Chiến lược để trở thành nổi tiếng. Một khi đã có một thái độ thoải mái về tầm quan trọng của nghiên cứu của chính mình, các bạn sẽ cảm thấy rất dễ dàng tập trung vào công việc của một nhà khoa học. Trong chiều hướng này, trở thành nổi tiếng là một ưu tiên thứ hai. Khổ một nỗi là rất nhiều người trong các bạn quá coi thường việc trở thành nổi tiếng, nhất là trong lĩnh vực xin tài trợ và … đi du lịch. Nhưng để trở nên nổi tiếng là một việc làm dễ hơn nhiều người tưởng. Có nhiều lựa chọn lắm. Một trong những cách chắc ăn nhất và nhanh chóng chất để trở nên nổi tiếng là làm việc với những người đã nổi tiếng. Điều này sẽ bảo đảm thanh danh hạng hai, rất cần thiết để tự mình xây dựng sự nghiệp và tên tuổi của chính mình.

Một cách khác để trở thành nổi tiếng là đứng ra tổ chức một hội thảo về một đề tài “nóng” nào đó và mời tất cả những người nổi tiếng trong lĩnh vực đó, kể cả người mà bạn đang làm chung, tham gia. Rồi liệt kê tên mình trong danh sách của chương trình hội nghị. Kĩ thuật này có hiệu quả diệu kì, và đã là con đường đưa vô số các nhà khoa học vô danh trở nên nổi tiếng trong một thời gian rất ngắn.

Một cách có hiệu quả khác là công bố những bài báo hay những bài tóm lược (abstract) mỗi tuần trong lĩnh vực mà các bạn chọn. Phương pháp này cần chút nỗ lực nhưng nếu thực thi cẩn thận (kèm theo những chỉ dẫn dưới đây) sẽ đem lại kết quả rất mĩ mãn.

3. Công bố những bài báo thường xuyên dưới dạng tóm lược. Các nhà khoa học hiện đại không có thì giờ để đọc hết tài liệu chuyên môn. Như nói trên, phần lớn nghiên cứu không có ảnh hưởng gì lâu dài, và cũng chẳng có bao nhiêu người chú ý. Thành ra, việc đọc tài liệu chuyên môn là một sự phung phí thời gian! Do đó, cần phải lợi dụng vào một thực tế là các bạn chỉ có thể ảnh hưởng các đồng nghiệp qua các công trình nghiên cứu của các bạn qua … tên tuổi. Lenin từng nói một lời nói dối được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành chân lí. Áp dụng nguyên lí đó, các nhà quảng cáo hay lặp đi lặp lại những gì đơn giản, dễ hiểu, và phương pháp này cũng rất có hiệu quả trong khoa học. Tên tuổi các bạn càng hiện ra trên mặt giấy càng nhiều, mức độ ảnh hưởng của các bạn càng cao và càng nổi tiếng.

Cố nhiên, việc chọn lựa phương tiện cũng rất quan trọng; nói chung, các bạn nên công bố càng thường xuyên càng tốt trên các báo chí và tạp chí khoa học phổ thông, nhưng các tập san khoa học cũng có thể dùng đến. Các bạn nên cố gắng công bố khoảng một trang cho mỗi tuần, và tên bạn nên xuất hiện tác giả đầu hay tác giả sau cùng. Càng nhiều đồng tác giả càng tốt, bởi vì ai cũng biết chỉ có tác giả sau cùng mới thật sự là người điều hành mọi chuyện, và nó cũng cho thấy bạn chắc phải là người đã có tiếng tăm nên mới có nhiều nhà khoa học làm việc cho bạn như thế.

Một số người sẽ cãi lại rằng mỗi bài báo nên chứa những thông tin mới, nhưng những người này không biết đến những bài học từ Đại lộ Madison. Trong thực tế, khi các bạn càng nói nhiều về một điều nào đó, thì người ta càng nhớ đến tên tuổi của các bạn. Một khi các bạn công bố một dữ kiện nhiều lần, và mỗi lần với vài thay đổi nho nhỏ, bạn sẽ càng có thêm uy tín trong đồng nghiệp và trong tâm trí của chính bạn. Thêm nữa, ngay cả lĩnh vực chuyên môn mà bạn làm việc từng bị xem là ngành hẹp hay thiếu hấp dẫn, cũng có thể trở nên quan trọng khi mỗi lần chúng xuất hiện trên giấy in.

Dĩ nhiên, hình thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thành công. Công bố những bài tóm lược (abstracts) có nhiều lợi điểm mà người ta thường hay không để ý đến. Thứ nhất, nó cho bạn cơ hội đi du lịch. Thứ hai, bài tóm lược ít khi nào được bình duyệt (và các bạn đã quá biết những câu chuyện khủng khiếp về việc bình duyệt bài báo khoa học. Những kẻ bất tài ghanh tị bạn không cho bạn công bố công trình tuyệt vời mà bạn theo đuổi cả … vài tháng). Thứ ba, và quan trọng nhất, những bài tóm lược cung cấp một tài liệu để các bạn có thể đề cập đến sau này, và nếu những dữ kiện trong bài tóm lược đúng thì bạn sẽ có tiếng, còn sai thì bạn chẳng cần phải đề cập đến nó. Cả hai trường hợp đều rất tiện lợi. Bài tóm lược cũng làm cho lí lịch khoa học các bạn dày hơn và oai hơn, vì có nhiều người không phân biệt được abstract và paper.

Trong vài trường hợp, nhất là một khi bạn đã có kinh nghiệm, bạn có thể công bố nhiều bài tóm lược cùng một lúc, mỗi bài viết về cùng một vấn đề với vài thay đổi nhỏ về chi tiết. Một số hiệp hội khoa học chỉ cho phép mỗi tác giả đệ trình một bài tóm lược, nhưng giới hạn này cũng rất dễ vượt qua. Phần lớn các nhà khoa học nhận thức rằng nghiên cứu sinh, cộng sự viên đều có thể trở thành tác giả, nhưng ít ai để ý đến các nhân viên hành chính, những người sẽ hoàn toàn vui vẻ để có tên xuất hiện trên báo! Với một kế hoạch soạn sẵn, bạn có thể có nhiều abstracts cùng công bố một lượt, một abstract với tên bạn đứng đầu, còn lại thì tên bạn đứng sau cùng. Có một huyền thoại rất nổi tiếng về một nhà khoa học nọ có tên trong tất cả các abstracts trong một buổi hội thảo! Bạn vẫn có thể làm nên huyền thoại đó.

4. Công bố những gì không thể phản biện hay phản nghiệm được. Nhiều nhà khoa học trẻ hiểu lầm rằng nên công bố các bài báo với những phân tích cẩn thận, và suy nghĩ sâu xa. Không hẳn thế: bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng cách công bố những kết quả chẳng có ý nghĩa gì cả. Rất ít người đọc báo cáo khoa học. Thành ra, không nên tốn thì giờ vô ích để phân tích kết quả. Quan trọng hơn, nên tập trung vào kết quả mà bạn ghi nhận được, với vài khác biệt về phương pháp so với các công trình trước, thì sự khác biệt về kết quả đều có thể giải thích được, nếu cần. Bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy lỗi lầm, nhất là bạn không thèm bàn luận đến ý nghĩa và tầm quan trọng của kết quả nghiên cứu.

Một cách đơn giản nhất để tránh khỏi những phiền phức, xấu hổ, là chỉ công bố những kĩ thuật được cải tiến. Công bố những phương pháp mới ít khi nào dẫn đến những tranh cãi mang tính lí thuyết với đồng nghiệp mà vẫn cho phép một thảo luận hào hứng về độ pH. Tốt hơn nữa, phát triển một reagent mà đồng nghiệp có thể sử dụng được và phân phối cho các đồng nghiệp khác với một yêu cầu khiêm tốn là cho tên bạn vào các bài báo nào dùng đến cái reagent. Với phương pháp này, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy bản lí lịch của bạn sẽ kéo dài ra một cách đáng kể hồi nào mà bạn không hay! Nếu vì một lí do nào đó, bạn cần phải thảo luận hay suy luận về kết quả nghiên cứu trên mặt báo, thì bạn cần phải giới hạn những suy luận về những ý tưởng mà sẽ chẳng thể nào thử nghiệm trong khi bạn còn sống.

5. Trình bày công trình nghiên cứu trong mọi diễn đàn. Một trong những lợi ích của việc làm khoa học là cơ hội đi du lịch. Dĩ nhiên, càng có tiếng, cơ hội càng nhiều. Tương tự, càng xuất hiện trong công chúng càng nhiều, bạn càng dễ trở nên nổi tiếng. Thêm vào đó, phần lớn hội nghị cho bạn cơ hội để công bố ít nhất là một abstract. Khi trình bày abstract, cần chú ý đến những hình ảnh (slides) hấp dẫn, nhưng không quá chú ý đến phần chi tiết. Một lời khuyên quan trọng: bỏ đi những thông tin thống kê, đặc biệt là biểu đồ, bởi vì chúng thường làm cho người xem bị cuốn hút khỏi cái điểm chính của slide. Trái lại với trường hợp công bố bài báo trên tạp chí, trong các hội nghị, bạn cứ tự do suy luận. Thực ra, không cần phải để cho dữ kiện gò bó bạn. Nên nhớ rằng ảnh hưởng của bạn sẽ lớn hơn nếu bạn tuyên bố những kết luận vượt ra giới hạn của kết quả nghiên cứu. Nếu có ai chất vấn một cách nghiêm túc những phát biểu của bạn, thì bạn có thể tránh phiền hà bằng cách nói rằng đối phương chưa dùng đúng đúng độ pH.

Trình bày kết quả nghiên cứu trong các hội nghi khoa học là một điều cần nhưng chưa đủ để thành công. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Khi bạn được mời tham dự một hội nghị, nhớ ghi xuống ai mời bạn, để sau này khi bạn tổ chức hội nghị bạn mời lại họ. Sau nhiều lần như thế bạn sẽ thấy tổ chức một hội nghị sẽ rất dễ dàng, và bạn sẽ đi dự nhiều hội nghị như thế. Và nếu bạn đã thành công, bạn có thể nghĩ đến việc thành lập một hiệp hội gồm những người cùng cảnh ngộ hay hoạt động trong cùng một ngành nghiên cứu.

6. Viết đơn xin tài trợ cho những công trình mình đã làm xong. Thực ra, điều này không cần nói thì ai cũng biết. Có ai lại cho chúng ta tiền nếu chúng ta chưa chứng minh đã/sẽ làm được. Nhưng rất tiếc là vẫn còn nhiều nhà khoa học trẻ chưa nắm vững vấn đề, nên dám viết đơn đề nghị làm những nghiên cứu mà họ chưa từng làm. Phần đông những người duyệt đơn xin tài trợ loại bỏ những đơn đề nghị những ý tưởng mới, những công trình nghiên cứu táo bạo, họ chỉ thích yểm trợ những công trình nào mà họ nghĩ là chắc chắn sẽ thực hiện được.

Đương nhiên, trong bối cảnh như thế, bạn cần phải cẩn thận trong vấn đề thời điểm công bố những bài báo khoa học của mình sao cho những bài báo này chưa in khi đơn xin tài trợ đang được cứu xét. Những nhà khoa học loại “nai tơ” có thể sẽ lâm vào tình thế là không có khả năng làm thí nghiệm trước khi nộp đơn xin tài trợ. Cách hay nhất để giải quyết vấn đề này là để nghị công trình nghiên cứu tương tự như những gì mà mình đang làm với một nhân vật nổi tiếng nào đó. Nếu cách này không khả dĩ, thì bắt buộc bạn phải đưa ra những đề nghị mới. Nếu như thế, nhớ làm cho công trình nghiên cứu khác đi một chút so với công trình mà người khác đã làm trước đây. Điều này làm cho những người duyệt đơn nghĩ rằng công trình nghiên cứu của bạn nằm trong đường hướng nghiên cứu đương đại.

7. Không nên phí phạm thì giờ cho giảng dạy. Nên nhớ rằng mục tiêu tối hậu của bạn là thành công trên trường nghiên cứu khoa học. Dù một số giảng dạy có thể đem lại vài lợi ích, nhất là bạn có cơ hội tiếp xúc và có thể thu nhận những học sinh có khả năng làm việc cho bạn (và là nguồn tác giả cho các bài báo sau này), nhưng giảng dạy là một khía cạnh chiếm nhiều thì giờ. Chẳng ai đề bạt bạn lên chức danh giáo sư vì thành tích giảng dạy, vì thế đừng phí thì giờ với đám sinh viên gà mờ!

Có thể cấp trên sẽ làm áp lực bạn để bạn phải nhận lãnh trách nhiệm giảng dạy, nhất là trước khi bạn được vào biên chế chính thức, nhưng áp lực này có thể hóa giải một cách dễ dàng. Chẳng hạn như luôn luôn trình bày các công trình nghiên cứu của bạn một cách mà không đám sinh viên nào có thể hiểu được. Trong các khoa y, đây là một thói quen mà giới khoa bảng bên y đã dùng và khá thành công. Bác sĩ đang làm nghiên cứu sinh thì làm gì hiểu được các vấn đề chuyên sâu, nên các giáo sư y khoa tha hồ nói mà chính họ cũng chẳng biết họ nói cái gì!

Một cách khác cũng có hiệu quả là cung cấp những chi tiết về phương pháp mà bạn sử dụng trong phòng thí nghiệm, đặc biệt nhấn mạnh đến mức độ pH. Thông thường, nghiên cứu sinh bị dội một lượng bom thông tin rất nhiều, nên họ không có khả năng và thì giờ suy nghĩ để đặt những câu hỏi thông minh. Cái lợi điểm của cách này rất hiển nhiên: dần dần bạn sẽ thấy giảng dạy không tốn thì giờ nhiều, và trong khi đó bạn có thì giờ viết abstracts cho các hội nghị chuyên môn!

8. Thương mại hóa. Có tiếng tăm là một điều tốt, nhưng càng thoải mái hơn nếu tiếng tăm được kèm theo tài chính. Vai trò truyền thống của nhà khoa học không hẳn là hấp dẫn so với các ngành nghề khác. Nhưng tình trạng này đang thay đổi nhanh chóng. Một trong những lựa chọn hấp dẫn với khoa học hiện nay là khả năng ứng dụng và thương mại hóa những công trình nghiên cứu của giới khoa học. Nhiều nhà khoa học phát hiện rằng thành lập những công ti để thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình cũng đem lại nhiều lợi ích tài chính. Cái “đẹp” của hệ thống này là không có một sự rủi ro nào cả. Nếu ứng dụng vào thương trường mà không đem lại lợi tức, thì bạn vẫn có thể xin tài trợ thêm để nghiên cứu tiếp. Còn nếu công trình nghiên cứu của bạn thương mại hóa thành công, đem lại lời cho công ti, thì bạn vẫn có thể dùng các chức vụ khoa bảng của mình, dùng quan hệ chuyên môn trong ngành của mình để nắm vững thông tin về các đề tài khoa học “nóng” và đem những thông tin này cho công ti của mình. Do đó, thương mại hóa đem lại khá nhiều lợi ích về tinh thần lẫn vật chất.

Tóm lại, tuân thủ theo những nguyên lí trên đây sẽ không chắc chắn đem lại thành công, nhưng kinh nghiệm của nhiều nhà khoa học trong quá khứ rất nhất quán với giả thiết rằng các chỉ dẫn trên đây rất thực tế (p nhỏ hơn 0.05 dùng cách thử nghiệm Wilcoxon X-test với pH 5.5) và có thể nâng cao cơ hội bạn được kính trọng trong đồng nghiệp, giàu có, và sau cùng là được biết đến như là một nhà khoa học thành công. Nếu không hiệu quả như mong muốn, thì các chỉ dẫn trên đây cũng tối thiểu bảo vệ bạn không phải xa rời hay sa ngã quá xa những biên giới của khoa học bình thường, những lằn ranh mà bạn có thể bị chụp mũ là những người gây rối hay những con cừu đen.

Friday, March 12, 2010

Minh triết không là gì?

Thay vì tìm cách định nghĩa "Minh triết là gì?", một cách đặt câu hỏi khác: "Minh triết không là gì?" sẽ giúp ích cho việc chỉ ra các đặc điểm mà vẫn giữ được tính Không và tính Mờ rất đặc trưng của Minh triết, đồng thời thấy được những hạn chế của Minh triết trong việc thúc đẩy sự phát triển.

>> Bài 1: Minh triết - Cô gái đồng trinh

Minh triết không lịch sử

Minh triết, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là sự thông thái trong cuộc sống. Minh triết thường gắn với những trải nghiệm, tri thức và lựa chọn của cá nhân và ẩn vào cách sống, cách cư xử chứ ít khi kết thành tư tưởng trong trước tác của nhà hiền triết để đời sau có thể nghiền ngẫm, nghiên cứu như một thực thể tự nó. Sự kế thừa của Minh triết là sự bắt chước, học hỏi của các cá nhân những điều mà cá nhân đó cho là khôn ngoan nhất, thích hợp nhất với mình chứ bản thân Minh triết như một thực thể không có tính tự kế thừa và do đó, không có lịch sử. Khi nhà hiền triết mất đi, Minh triết của nhà hiền triết đó cũng mất đi theo, dù tư tưởng của nhà hiền triết đó, nếu có, vẫn có thể được lưu truyền trong đời sống. Trong thực tế, có những nhà hiền triết không tư tưởng.

Minh triết gắn liền với sự sống và sự lựa chọn trong cách ứng xử với cuộc sống, bao gồm cả ứng xử với thiên nhiên, xã hội và bản thân mình, nên Minh triết chỉ tìm thấy trong thì hiện tại, gắn liền với đời sống của một cá nhân.

Vì không có lịch sử, và chỉ sống ở thì hiện tại, nên Minh triết như một thực thể tự nó không có tương lai. Nói cách khác, không thể phỏng đoán những diễn tiến tương lai của Minh triết như của Triết học, Toán học, Vật lý, Sinh học... dựa trên quá khứ của nó. Vì đơn giản, những con người tương lai vẫn chưa ra đời để sống và thực hành Minh triết tương lai đó.

Ảnh: chungta.com
Minh triết không cấu trúc

Khác với Triết học, Minh triết không có cấu trúc, không kết thành một hệ thống lý luận chặt chẽ. Lý do là Minh triết luôn gắn liền với đời sống của một cá nhân. Mà mỗi cá nhân một khác, không có những cá nhân giống hệt nhau. Nên Minh triết của các cá nhân cũng khác nhau, dù có cùng một phông nền đời sống. Do đó, Minh triết của các cá nhân không kết nối thành một hệ thống có cấu trúc xác định.

Minh triết do đó chỉ là những mảnh rời tri thức và trải nghiệm của cá nhân về tự nhiên, xã hội và bản thân mình. Minh triết chỉ là một kho vật liệu về cuộc sống, chứ không phải là một tòa nhà tư tưởng về cuộc sống.

Triết học, khác với Minh triết, được xây dựng một phần lớn từ những khái niệm được định nghĩa chính xác và quá trình suy luận logic, nên có tính lặp lại với những cá nhân khác nhau, miễn sao các cá nhân đó đều thống nhất về ý nghĩa của các khái niệm và quá trình suy luận đó, nên Triết học là một bộ môn khoa học, có lịch sử, có kế thừa, có cấu trúc, trái ngược với Minh triết nhấn mạnh vào trải nghiệm và trực giác nên có hơi hướng của huyền học.

Minh triết không lý tính

Minh triết gắn liền với đời sống và nghiệm sinh của cá nhân, lại chủ yếu là những nghiệm sinh đời thường của các cá nhân đời thường, nên Minh triết nặng về trực giác và cảm tính thay vì lập luận logic và lý tính như Triết học hay các ngành khoa học cụ thể.

Minh triết có xu hướng sử dụng trải nghiệm và tri thức sao cho khôn ngoan nhất, có lợi nhất chứ không nhằm mục đích tạo ra tri thức. Sự thiếu hụt một hệ thống khái niệm được định nghĩa rõ ràng và một quá trình tư biện, suy luận logic cũng làm cho lý tính của Minh triết vốn đã yếu lại càng yếu hơn.

Sự không lặp lại giữa các cá nhân, không thể kiểm chứng lại một cách chính xác thông qua suy luận hoặc thực nghiệm, làm cho phần lý tính của Minh triết bị nhòe đi do bị điều chỉnh chủ quan khi truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác dưới dạng học hỏi, bắt chước.

Do sự nhòe đi như thế, và do sự lấn át của trực giác so với logic, cảm tính so với lý tính, cộng với việc thiếu hụt một bộ khung logic và khái niệm chính xác chống đỡ, nên so với Triết học - nếu được coi là động vật có xương sống - thì Minh triết có vẻ giống một loại động vật thân mềm.

Minh triết không hướng ngoại

Minh triết chủ yếu hướng sự quan tâm của mình vào những cách cư xử, những lựa chọn được cho là thông thái nhất cho cá nhân trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, nên chủ yếu tập trung vào phục vụ đời sống con người, chứ ít khi đi xa hơn con người. Nếu có, thì cũng để thu lượm những cảm xúc, trải nghiệm hoặc tri thức để trở lại với con người. Vì thế, Minh triết hầu như không hướng tới thế giới tự nhiên như một đối tượng để tìm tòi nghiên cứu. Mà ngược lại, Minh triết luôn quanh quẩn với đời sống con người.

Sự thiếu hụt lịch sử tự thân, cấu trúc và lý tính càng hạn chế Minh triết hướng ra thế giới tự nhiên. Vì sự rộng lớn của giới tự nhiên đòi hỏi một hệ thống khái niệm và lý thuyết đồ sộ để diễn giải, điều mà Minh triết không có.

Minh triết vì thế, gắn liền với những vấn đề của con người như trật tự xã hội, ứng xử, đạo đức, văn hóa... với mục đích làm cho cuộc sống của con người tốt hơn thông qua việc kiểm soát và điều phối những vấn đề của con người mà hầu như bỏ qua việc tìm hiểu thế giới tự nhiên bên ngoài. Nói cách khác, Minh triết luôn hướng về con người và đặt con người vào trung tâm sự quan tâm của mình.

Minh triết không cố định

Minh triết gắn liền với cuộc sống đời thường. Mà cuộc sống đời thường thì không cố định bao giờ. Nên Minh triết, về bản chất, lưu tâm và chú trọng cái thay đổi, cái biến động, cái "thời" trong cuộc sống.

Sự thiếu hụt một bộ khung lý tính càng làm cho Minh triết dễ dịch chuyển, đôi khi chỉ bằng một cái chặc lưỡi cá nhân. Còn Triết học, do đặt giới tự nhiên - một thực thể tương đối ổn định trong khoảng thời gian dài - vào trung tâm của sự suy tưởng, nên Triết học ổn định và yên tĩnh hơn nhiều.

Cũng có thể dùng một hình ảnh khác để diễn tả sự mềm mại, linh hoạt của Minh triết, đó là nước. Nước mềm mại, nước luồn lách vào mọi ngõ ngách, nước luôn hướng về chỗ trũng giống như Minh triết luôn hướng về đời sống con người.

Những điều này tạo ra tính Không và tính Mờ rất đặc trưng của Minh triết phương Đông mà Minh triết Việt là một bộ phận cần được khám phá.

Tuy nhiên, tính Không và tính Mờ này có ý nghĩa về mặt bảo tồn Văn hóa nhiều hơn là thúc đẩy Phát triển, nên việc xây dựng Minh triết như một chủ thuyết phát triển cần phải hết sức thận trọng, nếu không muốn nói là không thể, để tránh sa vào những bẫy ngôn ngữ, bẫy giá trị và bẫy thời gian.

Sự thận trọng và tỉnh táo này còn giúp cho bản thân Minh triết không bị bóp méo thành nơi trú ẩn của những hủ lậu, những ám ảnh của quá khứ, làm tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Vì sự phát triển có được, suy cho cùng là dựa trên những cái Có và Rõ, chứ không phải là cái Không và Mờ

Monday, February 1, 2010

Đất cố đô có “vua”

Mấy hôm nay, nơi tôi đang sống, từ lề đường đến công sở, đi đâu cũng nghe người dân, cán bộ, nhỏ to đầy hả hê chuyện ông “quan” to nhất tỉnh vừa bị một nữ tiếp viên nhà hàng “dạy” cho bài học muối mặt về ứng xử với phụ nữ ngoài xã hội.

Chuyện là một bữa trưa đẹp trời, “quan” lớn cùng một số “quan” nhỏ vào ăn trưa ở một nhà hàng ven đô. Một nữ tiếp viên trẻ, mới đến làm việc của nhà hàng, như lệ thường, đến đon đả mở bia, tiếp đá cho các “quan”. Và (có lẽ cũng như thường lệ), “quan” lớn nhất đã không cầm lòng trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình nên đã… ghì đầu cô ta lại rồi hôn đánh chụt một cái vào má, trước sự chứng kiến của quan khách có mặt trong nhà hàng hôm đó! Quá bất ngờ và cảm thấy nhục nhã bởi hành vi của vị “quan” đáng kính mà lâu nay cô chỉ thỉnh thoảng được thấy mặt và nghe nói toàn lời hay, ý đẹp trên ti-vi, cô tiếp viên đã đáp trả ngay lập tức bằng một cái tát như trời giáng vào mặt “quan”!

Cái tát làm cả nhà hàng “chết lặng” như… sóng thần xuất hiện!

Chuyện đến đây chưa hẳn đã có đoạn kết tệ hại, nếu “quan” hành xử như một người có văn hoá (lỡ có tí bia rượu), chẳng hạn nói một lời xin lỗi. Đàng này, sau một lúc bỏ đi vào nhà vệ sinh, “quan” quay trở ra, mặt hầm hầm chỉ tay, lớn tiếng: “Đuổi, đuổi ngay cô tiếp viên không biết làm việc kia!”. Tất nhiên chủ quán thanh toán tiền công và cho cô nghỉ việc ngay sau đó. Chưa hết, “quan” còn doạ sẽ cho đóng cửa, không chỉ nhà hàng này mà còn cả… các nhà hàng bên cạnh! (Ý tưởng này thật… khó hiểu!).

Theo giới thạo tin “mật” thì việc ông “quan” này vào các nhà hàng ruột của mình rồi ôm hôn các cô tiếp viên và “hơn thế” giữa thanh thiên bạch nhật như đã dẫn ở trên là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng lâu nay, các cô phần khiếp uy của “quan”, phần vì miếng cơm manh áo đành nuốt nhục, im lặng. Cái tát vừa rồi thật ra là… “đi đêm lắm có ngày gặp ma” mà thôi.

Người viết bài này đã nghĩ mãi vẫn không lý giải thoả đáng về hành vi của “quan”. Chẳng lẽ, “quan” cho rằng xã hội bây giờ không có “vua”, cũng không có “dân”, nên không cần nhìn trước nhìn sau khi thực hiện những hành vi không xứng đáng với trọng trách như thế?

Hay là “quan” cho rằng, ta là “vua” của đất cố đô này nên ta muốn làm gì cũng được?

Báo Lao Động

Bí thư Hồ Xuân Mãn: “Nguy cơ của Đảng cầm quyền là xa dân”

Được tuyên dương tại Hội nghị điển hình tiên tiến của cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế Hồ Xuân Mãn cho rằng đã là đảng viên thì phải thường xuyên học tập, làm theo tấm gương của Bác, “dù có hay không có cuộc vận động”.

Học Bác không cần phong trào

Là một trong ba bí thư tỉnh ủy của cả nước được tuyên dương lần này, ông có thể chia sẻ đã học Bác ở điều gì?

Tôi học Bác phong cách dám làm, dám chịu trách nhiệm, khi khó khăn nhất thì người lãnh đạo phải dũng cảm đi đầu.

Làm theo tấm gương của Bác qua công việc của mình, tận tụy với công việc, bản thân tôi phải cố gắng làm sao để lãnh đạo tỉnh nhà phát triển, đó là học tập và làm theo tấm gương Bác một cách cụ thể nhất.

Thực ra, những điều Bác dạy rất mộc mạc, rất dân dã nhưng cái khó nhất hiện nay như Bác nói, tất cả làm thế nào đó để sau chiến tranh phải xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, đó là cái khó.

Đất nước chúng ta vẫn còn nghèo, phải đổi mới để tiến nhanh hơn nữa.

Ông nghĩ sao về chủ đề năm nay của cuộc vận động là xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, “Đảng là đạo đức, là văn minh”?

Tôi nghĩ đơn giản rằng đạo đức và văn minh là Đảng viên phải luôn gương mẫu đi trước, chống cho được suy thoái trong Đảng, ngày càng nâng cao sức chiến đấu của Đảng để lãnh đạo đất nước phát triển mạnh giàu.

Mỗi đảng viên không rèn luyện, không có ý thức cảnh giác thì đồng tiền sẽ làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên của chúng ta.

Cuộc vận động chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định.

Trách nhiệm của Đảng, theo tôi, là phải làm cho đảng viên nhận thức được rằng nếu không có cuộc vận động thì cũng phải làm tốt.

Tôi cũng nghĩ muốn việc “làm theo” gương Bác lan tỏa trong xã hội thì người đảng viên, cán bộ chủ chốt phải gương mẫu đi trước, làm trước, như thế thì nhân dân mới tin và theo Đảng.

“Dĩ hòa vi quý” với cái xấu

Ông là người đề xuất “5 chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên”, trong đó có yêu cầu phải gần dân, hiểu dân, học dân, tôn trọng nhân dân. Vì sao ông đưa ra đề xuất đó?

Tôi luôn nghĩ rằng nguy cơ của một Đảng cầm quyền là xa dân.

Bác Hồ từng ví nếu Đảng mà không có dân thì cũng như cây không có gốc. Một khi Đảng cầm quyền đã xa dân, khi Đảng đã mất gốc thì Đảng sẽ không thể tồn tại.

Cán bộ phải lấy dân làm gốc, trong 11 năm chiến đấu ở chiến trường, nhất là sau năm 1968, thường xuyên tôi ở đồng bằng, sống trong hầm bí mật, được nhân dân đùm bọc. Nếu không được sự che chở của dân thì không có ngày hôm nay.

Tâm nguyện của tôi bây giờ là làm việc thật tốt để xứng đáng với bao đồng chí, đồng đội đã ngã xuống, xứng đáng với sự chăm sóc của nhân dân, của tổ chức.

Hơn nữa, lương của đảng viên chúng ta hiện nay cũng là từ tiền thuế của người dân cả mà.

Nếu tổ chức Đảng không mạnh, không dám đấu tranh với cái xấu, không vì lợi ích chung thì đảng viên chúng ta rất dễ có thái độ dĩ hòa vi quý với cái xấu.

Đặc biệt khi đại hội Đảng đến gần, nếu đồng chí nào không hành động, co mình lại, sợ va chạm thì không chỉ là “dĩ hòa vi quý” mà còn “nín thở qua sông”.

Chưa điều tra ra ai hối lộ 3.000 USD

Phát biểu ở Hội nghị, ông có nhắc đến sự việc từng trả lại 3.000 USD tiền hối lộ?

Hôm đó tôi đi công tác về, vợ tôi đưa một tập tài liệu, trong đó có một phong bì, tôi tưởng là đơn thư, mở ra thì thấy có 3.000 USD.

Sáng hôm sau đến cơ quan tôi phải mời Thường vụ, mời công an đến và giao cho công an điều tra. Số tiền đó tôi quyết định sung vào công quỹ để xóa nhà tạm cho đồng bào dân tộc.

Tuy nhiên, đến nay, công an vẫn chưa tìm ra đối tượng hối lộ.